AINganHang.comAI Ngân Hàng
Tự tính lãi và phí

Quy đổi lãi suất tháng, lãi theo ngày sang lãi năm để so các khoản vay

Lãi 1%/tháng, 0,1%/ngày hay 1.000 đồng mỗi triệu một ngày là bao nhiêu một năm? Cách quy đổi, lãi danh nghĩa và hiệu dụng, lãi phẳng và phí trừ trước.

Overhead view of a plain notebook with blank pages, a pencil and an old calculator on a woven bamboo mat in a rural home in Thai Nguyen, natural daylight

Để so các khoản vay ghi lãi theo những đơn vị khác nhau, hãy quy hết về lãi suất năm tính trên dư nợ giảm dần, đã cộng các khoản phí bắt buộc. Lãi 1%/tháng nhân 12 là 12%/năm danh nghĩa; lãi 0,1%/ngày nhân 365 là 36,5%/năm. Nhưng một khoản quảng cáo "lãi phẳng 1%/tháng" hay "phí hồ sơ trừ trước" thì mức thật còn cao hơn nhiều so với con số ghi trên tờ rơi.

Bài này đi qua bốn bước quy đổi: từ tháng hoặc ngày sang năm, từ danh nghĩa sang hiệu dụng, từ lãi phẳng sang dư nợ giảm dần, và cộng phí trừ trước. Mọi con số là ví dụ giả định để minh hoạ cách tính. Bài không khuyên vay hay chọn nơi nào.

Vì sao cùng một khoản vay có thể được ghi bằng nhiều con số

Lãi suất có thể được nói theo năm, theo tháng, theo ngày, thậm chí theo "bao nhiêu đồng trên một triệu mỗi ngày". Mỗi cách ghi phục vụ một mục đích: ghi theo năm là chuẩn chung của hợp đồng tín dụng chính thức, ghi theo tháng giúp người vay hình dung tiền lãi phải trả mỗi kỳ, còn ghi theo ngày thường xuất hiện ở các quảng cáo vay ngắn hạn vì con số trông rất nhỏ.

Vấn đề nảy sinh khi bạn đặt hai lời mời cạnh nhau. "0,05%/ngày" nghe nhẹ hơn "12%/năm", nhưng nhân ra thì 0,05% nhân 365 ngày là 18,25%/năm, cao hơn rõ. "1.000 đồng mỗi triệu mỗi ngày" là 0,1%/ngày, tức 36,5%/năm. Người đọc quảng cáo thường không làm phép nhân đó, và chính vì vậy cách ghi theo ngày được ưa chuộng.

Thêm vào đó là cách tính trên dư nợ nào. Hai khoản vay cùng ghi 1%/tháng có thể có chi phí rất khác nhau nếu một khoản tính lãi trên dư nợ còn lại và khoản kia tính trên số tiền vay ban đầu suốt cả kỳ hạn. Đơn vị giống nhau chưa chắc đã so được với nhau.

Bảng quy đổi nhanh

Các dòng dưới đây là phép quy đổi danh nghĩa, chưa tính lãi kép và chưa tính phí. Dùng để có cảm nhận ban đầu về độ lớn của một con số:

Cách ghiPhép quy đổiLãi năm danh nghĩa
0,8%/tháng0,8% × 129,6%
1%/tháng1% × 1212%
2,5%/tháng2,5% × 1230%
0,05%/ngày0,05% × 36518,25%
0,1%/ngày, hay 1.000 đồng/triệu/ngày0,1% × 36536,5%
3.000 đồng/triệu/ngày0,3% × 365109,5%

Ngược lại, muốn biết lãi năm tương ứng bao nhiêu mỗi tháng, chia cho 12; muốn biết theo ngày, chia cho 365. Ví dụ lãi 9%/năm tương đương 0,75%/tháng và khoảng 0,025%/ngày. Những phép này đủ dùng khi đứng ở quầy hay đọc quảng cáo; khi đã nghiêm túc so hai khoản vay, cần thêm ba bước dưới đây.

Một mẹo nhỏ để nhớ: cứ 0,1%/ngày là khoảng 3%/tháng và 36,5%/năm. Thấy quảng cáo vài nghìn đồng mỗi triệu mỗi ngày, bạn nhân nhẩm số nghìn đồng với 36,5 là ra lãi năm danh nghĩa. Ba nghìn đồng mỗi triệu mỗi ngày đã là hơn 100%/năm, tức mỗi năm trả lãi nhiều hơn cả số tiền vay.

Lãi danh nghĩa và lãi hiệu dụng khác nhau ở đâu

Phép nhân 12 hay nhân 365 giả định tiền lãi không bị cộng vào gốc để tính lãi tiếp. Khi tiền lãi mỗi kỳ được nhập vào dư nợ và lại sinh lãi, như ở thẻ tín dụng không trả hết hay các khoản nợ để lâu, mức thực tế cả năm cao hơn mức danh nghĩa. Mức thực tế đó gọi là lãi suất hiệu dụng.

Công thức: lãi hiệu dụng năm bằng (1 + lãi kỳ) mũ số kỳ trong năm, trừ 1. Với 1%/tháng: 1,01 mũ 12 trừ 1, khoảng 12,68%/năm, so với 12% danh nghĩa. Với 2,5%/tháng: khoảng 34,5%/năm, so với 30% danh nghĩa. Với 0,1%/ngày nhập lãi hằng ngày: khoảng 44%/năm, so với 36,5% danh nghĩa. Lãi kỳ càng cao, khoảng chênh càng lớn.

Với khoản vay trả góp đều đặn mỗi tháng, bạn trả lãi ngay trong kỳ nên không có chuyện lãi chồng lãi, và lãi danh nghĩa phản ánh khá sát chi phí. Lãi hiệu dụng quan trọng khi so một khoản vay trả hằng tháng với một khoản trả gốc lãi một lần cuối kỳ, hoặc khi nợ đang bị cộng dồn. Trong bảng tính, hàm EFFECT làm phép này nhanh: nhập lãi danh nghĩa năm và số kỳ nhập lãi trong năm.

Chiều ngược lại cũng hữu ích. Khi một sản phẩm tiền gửi hay một khoản vay công bố lãi suất hiệu dụng năm và bạn muốn biết mỗi tháng tương ứng bao nhiêu, đừng chia cho 12 mà lấy căn bậc 12: (1 + lãi năm) mũ một phần mười hai, trừ 1. Hàm NOMINAL trong bảng tính làm việc này. Phân biệt được hai chiều quy đổi giúp bạn không so nhầm một con số danh nghĩa với một con số hiệu dụng, lỗi rất hay gặp khi đặt hai tờ quảng cáo cạnh nhau.

Lãi phẳng: con số nhỏ, chi phí lớn

Lãi phẳng là cách tính lãi trên số tiền vay ban đầu suốt cả kỳ hạn, dù bạn đã trả bớt gốc mỗi tháng. Ví dụ giả định: vay 12 triệu đồng trong 12 tháng, lãi phẳng 1%/tháng.

Cách tínhTiền trả mỗi thángTổng tiền lãiTương đương lãi trên dư nợ giảm dần
Lãi phẳng 1%/tháng1 triệu gốc + 120 nghìn lãi = 1,12 triệu1,44 triệukhoảng 1,79%/tháng, gần 21,5%/năm
Lãi 1%/tháng trên dư nợ giảm dần, trả đềukhoảng 1,066 triệukhoảng 0,79 triệu1%/tháng, 12%/năm

Cùng chữ "1%/tháng", khoản lãi phẳng tốn gần gấp đôi tiền lãi. Lý do là ở tháng cuối bạn chỉ còn nợ 1 triệu nhưng vẫn trả lãi trên 12 triệu. Để quy lãi phẳng ra lãi trên dư nợ giảm dần, dùng hàm RATE trong bảng tính: số kỳ là 12, tiền trả mỗi kỳ là âm 1,12 triệu, số tiền nhận là 12 triệu; kết quả là lãi tháng tương đương, nhân 12 ra lãi năm.

Một quy tắc nhẩm thô: với kỳ hạn một hai năm, lãi phẳng tương đương khoảng gần gấp đôi lãi trên dư nợ giảm dần. Đây chỉ là ước lượng; muốn chính xác thì dùng hàm RATE.

Cộng phí trừ trước để ra chi phí thật

Nhiều khoản vay tiêu dùng thu phí hồ sơ, phí thẩm định hoặc bảo hiểm khoản vay bằng cách trừ ngay khi giải ngân. Bạn ký vay 10 triệu nhưng chỉ nhận 9,5 triệu, trong khi tiền trả vẫn tính trên 10 triệu. Cách quy đổi:

  1. Ghi số tiền thật sự nhận về tài khoản sau khi trừ mọi khoản phí. Ví dụ giả định: vay 10 triệu, phí 500 nghìn trừ trước, nhận 9,5 triệu.
  2. Ghi tiền trả mỗi kỳ theo lịch ngân hàng. Ví dụ: 12 tháng, lãi 1%/tháng trên dư nợ giảm dần, trả đều khoảng 888 nghìn đồng mỗi tháng.
  3. Dùng hàm RATE với số kỳ 12, tiền trả mỗi kỳ âm 888 nghìn, số tiền nhận 9,5 triệu. Kết quả khoảng 1,82%/tháng.
  4. Nhân 12 ra khoảng 21,9%/năm. Đây là chi phí thật của khoản vay, cao gần gấp đôi con số 12%/năm trên hợp đồng.
  5. Làm tương tự với mọi khoản phí bắt buộc trả định kỳ, ví dụ phí quản lý tài khoản vay hằng tháng: cộng vào tiền trả mỗi kỳ trước khi tính RATE.

Khoản bảo hiểm khoản vay có khi là tự nguyện, có khi là điều kiện. Nếu bạn được quyền từ chối mà vẫn bị trừ, đó là chuyện cần hỏi lại. Danh mục hiểu sản phẩm ngân hàng của trang có bài riêng về bảo hiểm bán kèm.

Bốn câu hỏi khi đọc một lời mời vay ghi lãi theo ngày

Các lời mời vay nhanh qua tin nhắn, mạng xã hội hay ứng dụng thường ghi lãi theo ngày, kèm chữ "chỉ từ". Trước khi quan tâm tới thủ tục nhanh hay chậm, hỏi bốn câu sau và tự quy đổi:

  • Lãi tính theo ngày đó là trên số tiền vay ban đầu hay trên dư nợ còn lại? Nếu trên số tiền ban đầu, đó là một dạng lãi phẳng, chi phí thật cao hơn con số quy đổi.
  • Có phí nào trừ trước khi giải ngân không: phí hồ sơ, phí thẩm định, phí bảo hiểm, phí "kích hoạt"? Tiền nhận về là bao nhiêu?
  • Có phí định kỳ nào ngoài lãi không: phí quản lý, phí dịch vụ, phí thu hộ mỗi kỳ?
  • Bên cho vay là tổ chức được cấp phép hoạt động cho vay hay không? Các khoản vay giữa cá nhân hoặc tổ chức không phải tổ chức tín dụng bị Bộ luật Dân sự giới hạn mức lãi thoả thuận; bên tự xưng cho vay mà lách bằng cách gọi lãi là "phí" là dấu hiệu đáng ngờ.

Cộng hết lãi và phí, đặt tiền nhận về và tiền phải trả vào hàm RATE như ở phần trên. Nhiều trường hợp, khoản vay quảng cáo "chỉ vài trăm đồng mỗi ngày" khi quy đổi đầy đủ cho ra chi phí năm vượt xa mọi khoản vay ngân hàng thông thường. Biết con số đó trước khi ký là cách tự bảo vệ đơn giản nhất.

Nhờ AI quy đổi mà không bị con số sai đánh lừa

Chatbot AI rất tiện để hỏi "0,07%/ngày là bao nhiêu một năm" hay "giải thích lãi phẳng bằng ví dụ". Tuy vậy, mô hình ngôn ngữ đôi khi tính nhầm khi gặp nhiều bước, nhất là phép lũy thừa và hàm RATE vốn cần lặp nhiều vòng. Một câu trả lời trôi chảy kèm con số sai là chuyện có thật.

Cách dùng an toàn là nhờ AI viết công thức và giải thích ý nghĩa từng ô, rồi tự chạy trong bảng tính. Câu lệnh mẫu: "Có hai lời mời vay 20 triệu trong 18 tháng: một bên lãi phẳng 1,2%/tháng, một bên lãi 1,8%/tháng trên dư nợ giảm dần nhưng trừ trước phí 3%. Hãy lập bảng tính quy cả hai về lãi năm tương đương trên dư nợ giảm dần, dùng hàm RATE, giải thích từng công thức." Nếu chatbot có chế độ chạy mã tính toán, đó là cách đáng tin hơn để kiểm, nhưng vẫn nên đối chiếu bằng bảng tính của chính bạn.

Khi hỏi, chỉ dùng số tròn giả định. Không cần đưa tên công ty tài chính, số hợp đồng, họ tên hay ảnh giấy tờ. Muốn hiểu thêm về các chiêu "vay nhanh lãi thấp" trá hình, đọc danh mục chiêu lừa riêng mảng ngân hàng; còn câu hỏi rộng hơn về hỏi AI cho đúng cách trong lĩnh vực tài chính có ở trang AI Chuyên Gia.

Câu hỏi thường gặp

Lãi 1%/tháng có phải là 12%/năm không?

Là 12%/năm danh nghĩa nếu tính trên dư nợ giảm dần. Nếu lãi nhập gốc mỗi tháng, mức hiệu dụng khoảng 12,68%. Nếu là lãi phẳng trên số tiền vay ban đầu, chi phí thật cao hơn nhiều, có thể gần gấp đôi.

Làm sao biết khoản vay tính lãi phẳng hay dư nợ giảm dần?

Đọc mục cách tính lãi trong hợp đồng, hoặc nhìn lịch trả nợ: nếu tiền lãi mỗi tháng bằng nhau từ đầu tới cuối dù gốc đã giảm, đó là lãi phẳng. Nếu tiền lãi giảm dần theo dư nợ, đó là cách tính trên dư nợ giảm dần.

Vì sao quảng cáo vay hay ghi lãi theo ngày?

Con số theo ngày trông rất nhỏ nên dễ gây cảm giác rẻ. Nhân với 365 để ra lãi năm thì thấy độ lớn thật. Ví dụ 0,1%/ngày tương đương 36,5%/năm danh nghĩa, chưa tính các khoản phí.

Hàm RATE trong bảng tính dùng thế nào?

RATE nhận số kỳ, tiền trả mỗi kỳ ghi số âm và số tiền nhận ghi số dương, trả về lãi mỗi kỳ. Nhân với số kỳ trong năm để ra lãi năm. Nhập số tiền thật sự nhận sau phí để thấy chi phí thật.

Lãi suất ghi trên hợp đồng đã gồm phí chưa?

Thường là chưa. Lãi suất trên hợp đồng là lãi tính trên dư nợ; các khoản phí hồ sơ, bảo hiểm, phí quản lý được ghi riêng. Muốn so chi phí thật giữa các khoản vay, phải cộng phí vào theo cách trong bài.

Có thể tin con số AI quy đổi không?

Dùng để tham khảo nhanh thì được, nhưng nên kiểm lại bằng bảng tính, nhất là với phép lũy thừa và hàm RATE. Nhờ AI viết công thức, rồi tự chạy công thức đó với số liệu của mình trên máy.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926 138 138